Thư mục Tạp chí Cầu đường Việt Nam số 7 năm 2017
9 tháng 3, 2018 bởi
Thư mục Tạp chí Cầu đường Việt Nam số 7 năm 2017
Administrator


1. Sự ảnh hưởng của độ cứng vải địa kỹ thuật gia cường đến hệ số an toàn ổn định nèn đường đắp cao tốc/ Huỳnh Ngọc Hào// Tạp chí Cầu đường Việt Nam .- Số 7/2017 .- Tr. 5 – 12
Tóm tắt: Ở nước ta hiện nay, đường cao tốc đang được xây dựng trên quy mô lớn. Tuy nhiên, khi tính toán ổn định đường đắp cao tốc có gia cường vải địa kỹ thuật (VĐKT), người ta thường quan tâm đến thông số cường độ của vải mà chưa có quan tâm nhiều đến độ cứng của VĐKT. Trong bài báo này, tác giả trình bày về độ cứng của VĐKT, cách xác định độ cứng thông qua cường độ của vải địa với mô đun đàn hồi đất nền và các kết quả phân tích phần tử hữu hạn trên phần mềm ứng dụng.
Từ khóa: Đường đắp cao tốc; Vải địa kỹ thuật; Độ cứng vải địa kỹ thuật
2. Thiết kế thành phần bê tông xi măng nhiều tro bay cường độ cao dùng cho mặt đường ô tô/ Nguyễn Thanh Sang, Lê Thu Trang// Tạp chí Cầu đường Việt Nam .- Số 7/2017 .- Tr. 13 – 16
Tóm tắt: Bài báo trình bày nghiên cứu thực nghiệm thiết kế thành phần bê tông xi măng nhiều tro bay cường độ cao dùng cho mặt đường ô tô có hàm lượng tro bay thay thế chất kết dính là 30%, có độ sụt Sn = 10-12 cm, có cường độ chịu nén 55 Mpa.
Từ khóa: Bê tông xi măng; Mặt đường ô tô; Nghiên cứu bê tông
3. Cầu cong toàn khối, nghiên cứu sự làm việc của cầu cong toàn khối với một số điều kiện tại Việt Nam bằng phương pháp PTHH/ Nguyễn Mạnh Hà, Phạm Tuấn Thanh, Lê Đức Long// Tạp chí Cầu đường Việt Nam .- Số 7/2017 .- Tr. 17 – 21
Tóm tắt: Bài báo giới thiệu tổng quan những kiến thức chung về cầu toàn khối và bán toàn khối. Hiện trạng sử dụng cầu cong với mố toàn khối trên thế giới. Nghiên cứu sự làm việc của một cầu cong toàn khối với điều kiện địa chất, khí hậu và tiêu chuẩn của Việt Nam bằng phương pháp PTHH từ đó đưa ra một số nhận xét về sự làm việc của cấu cong toàn khối trong điều kiện Việt Nam.
Từ khóa: Cầu toàn khối; Cầu bán toàn khối; Cầu không khe co giãn; Kết cấu
4. Nghiên cứu đề xuất sử dụng tấm bê tông cốt thép với chiều dài 11,8 m mặt đường sân bay trong điều kiện Việt Nam/ Nguyễn Duy Đồng, Trần Công Vui// Tạp chí Cầu đường Việt Nam .- Số 7/2017 .- Tr. 22 – 26
Tóm tắt: Nội dung bài báo trình bày tóm tắt quá trình nghiên cứu và đánh giá những kết quả bước đầu về việc ứng dụng loại mặt đường bê tông cốt thép đối với sân bay ở Việt Nam. Qua việc ứng dụng loại mặt đường này cho thấy có thể giảm đáng kể về tổng chiều dai khe co, khe dãn của mặt đường bê tông sân bay. Bài báo cũng đồng thời kiến nghị kích thước hợp lý đối với mặt đường bê tông sân bay khi chiều dày lớn hơn 36 cm nên sử dụng là tấm bê tông cốt thép có chiều dài là 11,8 m (phù hợp với chiều dài của thanh thép hiện nay là 11,7 m).
Từ khóa: Bê tông cốt thép sân bay; Khe mặt đường sân bay; Tấm bê tông dài 11,8 m
5. Siêu cao đường cong đường sắt đô thị/ Nguyễn Hữu Thiện// Tạp chí Cầu đường Việt Nam .- Số 7/2017 .- Tr. 27 – 32
Tóm tắt: Bài viết này trình bàycơ sở phương pháp luận của việc tính toán siêu cao trong đường cong đường sắt nói chung và đường sắt đô thị nói riêng gồm siêu cao cân bằng, siêu cao lớn nhất, siêu cao thiếu. Đề cập các ảnh hưởng tác động của chúng đối với vấn đề an toàn và tiện nghi cho tàu và hành khách khi tàu chạy trên đường cong. Thông qua ví dụ tính toán bài viết còn trình bày cách xác định siêu cao đường sắt đô thị khi đặt đường cong trên thực địa với các chú ý cần thiết.
Từ khóa: Siêu cao; Siêu cao cân bằng; Siêu cao lớn nhất; Gia tốc ly tâm dư; Siêu cao thiếu
6. Ứng dụng vật liệu Carboncor Asphalt trong xây dựng đường giao thông tại tỉnh Thanh Hóa/ Nguyễn Xuân Chung// Tạp chí Cầu đường Việt Nam .- Số 7/2017 .- Tr. 33 – 34
Tóm tắt: Trong những năm qua với sự phát triển về lĩnh vực khoa học công nghệ nhất là lĩnh vực công nghệ vật liệu mới áp dung trong công tác xây dựng, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông như: Ứng dụng phụ gia (ISS dạng nước) tăng cường độ lớp móng đường; công nghệ đất gia cố bột kết dính thủy hóa vô cơ ZUGON làm đường (HRB); công nghệ tái chế móng mặt đường bê tông nhựa, bê tông nhựa rỗng trong xây dựng đường bộ; sử dụng mặt đường Carboncor Asphalt trong công tác bảo trì đường bộ, đã được Bộ Giao thông vận tải cho áp dụng một số quốc lộ trên địa bàn các tỉnh và đã có đánh giá trong quá trình đưa vào khai thác sử dụng, Sau đây là một số đánh giá khi sử dụng vật liệu Carboncor Asphalt trong xây dựng đường giao thông tại tỉnh Thanh Hóa.
Từ khóa: Công nghệ vật liệu; Vật liệu Carboncor Asphalt; Xây dựng đường giao thông
7. Nghiên cứu kinh nghiệm về tổ chức quản lý vận tải hành khách công cộng ở các thành phố của Brazil/ Lê Trọng Thành, Từ Sỹ Sùa// Tạp chí Cầu đường Việt Nam .- Số 7/2017 .- Tr. 39 – 41
Tóm tắt: Nội dung chủ yếu của bài báo là sử dụng những phương pháp phân tích so sánh để nghiên cứu, đánh giá những kinh nghiệm thành công về tổ chức quản lý vận tải hành khách công cộng trong thành phố nói chung và vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt nói riêng ở các thành phố (đô thị) của Brazil; với mong muốn làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Từ khóa: Vận tải hành khách công cộng trong thành phố; Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt; Vận tải hành khách
8. Dự án hỗ trợ lồng ghép tiêu chí xanh vào xây dựng quy trình kỹ thuật đánh giá tác động môi trường khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông/ Đoàn Thị Hồng Thắm, Phan Thị Minh Hoa, Nguyễn Thị Minh Hiền// Tạp chí Cầu đường Việt Nam .- Số 7/2017 .- Tr. 42 – 43
Tóm tắt: “Dự án hỗ trợ lồng ghép tiêu chí xanh vào xây dựng quy trình kỹ thuật đánh giá tác động môi trường khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông” nhằm tạo lập một tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, nhà đầu tư và các bên liên quan có cách tiếp cận cụ thể hơn về các mục tiêu của Chiến lược Tăng trưởng xanh quốc gia, các giải pháp cụ thể để hướng tới tăng trưởng xanh trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư ngành GTVT, từ đó có những quyết định đầu tư hợp lý nhằm xây dựng ngành GTVT phát triển bền vững.
Từ khóa: Chiến lược Tăng trưởng xanh quốc gia; Tăng trưởng xanh; Công trình giao thông
9. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hạ tầng nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người đi bộ ở thành phố Hà Nội/ Đặng Minh Tân, Trần Danh Đại // Tạp chí Cầu đường Việt Nam .- Số 7/2017 .- Tr. 53 – 59
Tóm tắt: Hiện nay ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM nói riêng và các đô thị ở Việt Nam nói chung, vấn đề người đi bộ chưa thật sự được quan tâm đúng mức, đặc biệt là vấn đề hạ tầng giao thông phục vụ người đi bộ còn thiếu hoặc bị sử dụng không đúng mục đích. Điều đó dẫn đén người dân sống trong các đô thị ngại đi bộ, hoặc không cảm thấy an toàn, thoải mái khi đi bộ. Ở một góc độ khác, giao thông đi bộ có nhiều lợi ích cho đô thị như việc giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường. Giao thông đi bộ là một mắt xích của giao thông công cộng, việc phát triển giao thông công cộng cần đồng hành với việc phát triển hạ tầng giao thông phục vụ người đi bộ… Trên cơ sở đó, bài báo nghiên cứu thực trạng về hạ tầng giao thông đi bộ ở Việt Nam, nghiên cứu khảo sát về tình hình đi bộ ở Hà Nội, tìm hiểu một số kinh nghiệm thế giới về giải pháp hạ tầng phục vụ người đi bộ và đề xuất những giải pháp hạ tầng nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người đi bộ ở Hà Nội nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
Từ khóa: Người đi bộ; An toàn giao thông; Hạ tầng giao thông

Trung tâm Thông tin Thư viện