Bài trích trong Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam số 14 và 15 năm 2013
18 tháng 11, 2013 bởi
Bài trích trong Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam số 14 và 15 năm 2013
Administrator


Kính mời độc giả tìm đọc tại Phòng đọc NCKH - Trung tâm Thông tin - Thư viện - Trường Đại học Dân lập Hải Phòng
 
1. Thúc đẩy chuyển giao công nghệ - Một vài định hướng/ Trần Tuyết Nhung// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 14 .- 7/2013 - Tr. 8 - 10
Đối với sự phát triển của một quốc gia, công nghệ luôn giữ vai trò then chốt. Qua kinh nghiệm thực tiễn của các nước cho thấy, chuyển giao công nghệ là sự lựa chọn đúng đắn và hiệu quả để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đây là điều mà các nước đều phải trải qua. Bài viết này đề cập đến một số định hướng nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ ở nước ta trong giai đoạn tới.
Từ khóa: Chuyển giao công nghệ, khoa học, kỹ thuật, định hướng.

2. Tác động của các yếu tố tới tăng trưởng TFP ở Việt Nam/ Trần Thọ Đạt, Đỗ Tuyết Nhung// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 14 .- 7/2013 - Tr. 11 - 15
Bài viết đề cập đến tác động của các yếu tố tới tăng trưởng TFP, gồm: môi trường kinh tế vĩ mô; phân bổ lại các nguồn lực; vốn con người và đổi mới công nghệ.
Từ khóa: kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế, công nghệ, vốn con người.

3. Tiền Giang: ứng dụng thành công hệ thống sấy lúa quy mô công nghiệp/ Nguyễn Văn Re// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 14 .- 7/2013 - Tr. 27 - 29
Sấy là công đoạn quan trọng nhất góp phần tích cực vào quá trình giảm thất thoát sau thu hoạch lúa, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và tỷ lệ thu hồi qua tồn trữ  và chế biến gạo về sau. Mặc dù có tầm quan trọng như vậy, nhưng từ trước đến nay, công việc này ở Tiền Giang chủ yếu do các cơ sở tư nhân nhỏ lẻ đảm nhận với phần lớn là lò sấy kiểu thủ công, năng suất thấp, chất lượng sấy không đảm bảo, độ ẩm sau sấy không đồng đều, tỷ lệ rạn nứt phát sinh sau sấy tăng cao. Đây chính là điều bất cập nhất trong công tác bảo quản lúa phục vụ cho chế biến xuất khẩu thời gian qua. Bài viết giới thiệu mô hình sấy lúa theo quy mô công nghiệp công suất sấy lúa 200-300 tấn /ngày và đưa ra một số nhận xét, đề xuất, kiến nghị khi tiến hành áp dụng mô hình trên.
Từ khóa: Nông nghiệp, khoa học, công nghệ, sấy lúa, quy mô công nghiệp.

4. Đổi mới cơ chế quản lý chi tiêu ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ/ Đinh Thị Nga// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 14 .- 7/2013 - Tr. 30 - 33
Khoa học và công nghệ (KH&CN) là động lực cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn đều chỉ rõ, các quốc gia có sự chi tiêu đúng đắn, đặc biệt là chi tiêu ngân sách nhà nước (NSNN) sẽ tạo được nền tảng KH&CN mạnh, tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Cơ chế quản lý chi tiêu là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của các khoản chi tiêu nói chung, chi tiêu cho KH&CN nói riêng. Bài viết này khảo sát một số kinh nghiệm về đầu tư cho KH&CN ở một số quốc gia, đánh giá những bất cập trong cơ chế quản lý chi tiêu NSNN cho KH&CN ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý chi tiêu NSNN nhằm phát triển KH&CN ở Việt Nam trong thời gian tới.
Từ khóa: Quản lý chi tiêu, ngân sách nhà nước, khoa học công và công nghệ.

5. Một số vấn đề trong thi công và nghiệm thu đập bê tông đầm lăn công trình thủy lợi, thủy điện/ Hoàng Phó Uyên// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 14 .- 7/2013 - Tr. 34 - 37
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, đập trọng lực sử dụng bê tông đầm lăn (BTĐL) đã được ứng dụng tương đối rộng rãi ở Việt Nam. Chúng ta đã thiết kế và thi công được nhiều đập thủy điện, thủy lợi như: đập thủy điện Pleikrong - Kon Tum, đập thủy lợi Định Bình - Bình Định... Tuy nhiên, ở nước ta do chưa có tiêu chuẩn quốc gia cho việc thiết kế, thi công và nghiệm thu BTĐL nên việc áp dụng công nghệ này vẫn còn nhiều vấn đề chưa được thống nhất, mỗi công trình BTĐL áp dụng một tiêu chuẩn khác nhau... Chính vì vậy, đã có một số công trình đập như đập Sê San 4, đập Sông Tranh 2... Bài viết phân tích một số vấn đề trong công tác thi công và nghiệm thu các đập BTĐL, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng các công trình BTĐL, nhất là tính chống thấm.
Từ khóa: Đập bê tông đầm lăn, công trình thủy lợi, thủy điện.

6. Công nghệ in 3D/ Nguyễn Xuân Chánh// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 14 .- 7/2013 - Tr. 38 - 41
Công nghệ in 3D (3D printing) còn có tên là công nghệ chế tác cộng, là công nghệ chế tạo ra sản phẩm bằng cách theo chương trình máy tính lần lượt tạo ra (in ra) các lớp mỏng vật liệu (hai chiều - 2D), đồng thời xếp chồng chúng lên nhau để tạo ra sản phẩm  (ba chiều - 3D). Công nghệ này đã ra đời từ khoảng 30 năm nay, hiện phát triển rất mạnh mẽ và được dự báo sẽ tạo ra một cuộc cách mạng về công nghệ. Bài viết giới thiệu những công nghệ in 3D cơ bản cũng như các ứng dụng của công nghệ này trên thế giới.
Từ khóa: Công nghệ in, ba chiều, ứng dụng.

7. Giải nhiệt cao ốc theo cơ chế đổ mồ hôi/ LTK// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 14 .- 7/2013 - Tr. 42 - 44
Sử dụng vật liệu phủ làm mát cao ốc nhằm tiết kiệm năng lượng đang là một trong những hướng nghiên cứu đầy thách thức đối với các nhà khoa học trên thế giới. Mới đây, nhóm nghiên cứu của giáo sư W.J.Stark đến từ Viện Hóa học ETH Zurich, Thụy Sỹ đã công bố một giải pháp hứa hẹn đối với vấn đề này, bằng cách sử dụng các lớp hydrogel nhạy cảm nhiệt có khả năng làm mát các bề mặt bao phủ dựa theo cơ chế "đổ mồ hôi" như ở người.
Từ khóa: Xây dựng, hạ nhiệt cho nhà cao tầng, công nghệ xây dựng, hệ thống làm mát.

8. Nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ và tải trọng tới độ chính xác lặp của robot Staubli-TX40/Nguyễn Trọng Doanh, Trần Văn Diện// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 14 .- 7/2013 - Tr. 47 - 49
Độ chính xác lặp của robot thường bị ảnh hưởng bởi các biến quá trình vận hành như: tốc độ, tải trọng, nhiệt độ... Nghiên cứu này tập trung khảo sát ảnh hưởng của tốc độ và tải trọng ở điểm tác động cuối của robot tới độ chính xác lặp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tốc độ và tải trọng trong quá trình làm việc có ảnh hưởng đáng kể tới độ chính xác lặp của robot Staubli-TX40 6 bậc tự do, đặc biệt khi robot mang tải và chạy với tốc độ cao. Trong dải tốc độ từ 20% đến 60%, độ chính xác lặp ổn định và hầu như không bị ảnh hưởng của tải trọng.
Từ khóa: độ chính xác lặp, robot TX40, tải trọng, tốc độ.

9. Thiết bị điện tử tự động chú thích địa danh, địa điểm bằng giọng nói tiếng Việt/ Phạm Thanh Tuyên// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 14 .- 7/2013 - Tr. 50 - 55
Bảng mạch điện tử tự động chú thích địa danh, địa điểm bằng giọng nói dựa trên hệ thống của Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo thiết kế vi mạch và giải thuật phiên bản 1.6 của Phòng thí nghiệm trí tuệ nhân tạo. Giải thuật này được tối ưu hóa về tốc độ truy xuất 10 ms/từ trên hệ thống dung lượng bộ nhớ chỉ còn 64 MB bộ nhớ RAM và 256 MB bộ nhớ Flash... và được tinh chỉnh cũng như sắp xếp lại nhằm thích hợp vận hành trên hệ thống nhúng có tài nguyên nhỏ. Thiết bị là sự kết hợp giữa công nghệ chuyển đổi văn bản thành giọng nói dành cho tiếng Việt và công nghệ định vị toàn cầu. Bộ dữ liệu được tập trung vào các địa danh, địa điểm nổi tiếng. Bảng mạch điện tử này được thực hiện bằng vi xử lý ARM chạy trên hệ điều hành Linux. Nó sẽ định hướng cho việc sản xuất các sản phẩm TTS tiếng Việt chuyên dụng có thể sử dụng trong các lĩnh vực như giáo dục, giao thông, truyền thông, dân dụng...
Từ khóa: tổng hợp tiếng nói, chuyển đổi văn bản thành giọng nói, định vị toàn cầu, vi xử lý ARM, hệ thống nhúng.

10. Một số kết quả bước đầu trong nghiên cứu chế tạo sơn vạch đường hệ thống Acrylic/ Nguyễn Thị Bích Thủy, Đào Minh Tuệ, Đỗ Văn Tài// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 14 .- 7/2013 - Tr. 56 - 60
Sơn vạch đường được sử dụng rộng rãi trong ngành giao thông với mục đích chỉ dẫn giao thông. Loại sơn này chủ yếu gồm sơn alkyd hoặc acrylic styren hệ dung môi. Sơn hệ  dung môi có độ hòa tan trong nước thấp, cơ chế khô không phụ thuộc nhiều vào độ ẩm không khí. Tuy nhiên, vạch kẻ đường từ nhựa alkyd hệ dung môi có hạn chế là tầm nhìn (cả ban ngày và ban đêm) không rõ; do sự oxy hóa nhựa alkyd theo thời gian nên màng sơn giòn, cứng và không bám mặt đường hoặc độ bám dính của hạt bi thủy tinh không tốt. Sơn acrylic hệ dung môi có tính năng không tốt hơn so với sơn alkyd. Mặt khác, sơn vạch đường hệ dung môi có hàm lượng chất hữu cơ bay hơi cao, gây độc hại khi chế tạo, vận chuyển và sử dụng. Để giải quyết các vấn đề nêu trên, thế giới đã sử dụng nhựa acrylic hệ nước thay thế cho nhựa acrylic hệ dung môi để chế tạo sơn vạch đường. Sơn vạch đường hệ nước có các ưu điểm: thời gian khô nhanh, độ bám dính với mặt đường tốt, khả năng giữ bi thủy tinh tốt, bền với các môi trường dầu, kiềm, muối. Sơn vạch đường hệ nước có độ phản quang ban ngày và ban đêm tốt. Đồng thời, sơn có hàm lượng chất hữu cơ bay hơi thấp. Bài báo này trình bày một số kết quả bước đầu trong nghiên cứu chế tạo sơn vạch đường hệ nước acrylic.
Từ khóa: sơn vạch đường, nhựa acrylic, hệ nước.



1. Ứng dụng các công cụ xác định nguyên nhân gốc rễ của vấn đề trong hoạt động cải tiến năng suất chất lượng/ Nguyễn Ngọc Thi// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 15 .- 8/2013 - Tr. 14 - 15
Hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, không phân biệt quy mô, đều luôn phải đối diện với những vấn đề, thách thức, khó khăn cần vượt qua để không ngừng tiến bộ, phát triển. Kinh nghiệm đúc kết được sau những thất bại sẽ là những viên gạch cho nền tảng tương lai. Điều này sẽ trở nên hiệu quả hơn mỗi khi kinh nghiệm được kết hợp với các công cụ giải quyết vấn đề, trong đó có việc truy tìm nguyên nhân gốc rễ của vấn đề để giải quyết nó một cách triệt để.
Từ khóa: Chiến lược kinh doanh, năng suất, chất lượng.

2. Sắt xốp - Nguyên liệu tiên tiến  cho luyện thép hợp kim ở Việt Nam/ Nguyễn Xuân Liêu// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 15 .- 8/2013 - Tr. 19 - 21
Sắt xốp đã được các nhà khoa học và một số doanh nghiệp trên thế giới nghiên cứu, sản xuất. Ở nước ta, Công ty cổ phần khoáng sản và luyện kim Việt Nam (MIREX) đã có 2 bằng sáng chế về quy trình sản xuất sắt xốp phi cốc bằng công nghệ hoàn nguyên trực tiếp ở trạng thái rắn trong lò đứng bằng quặng sắt và than Việt Nam với môi trường nung yếm khí. Bên cạnh đó, MIREX cũng đã xây dựng hoàn chỉnh một nhà máy sản xuất sản phẩm sắt xốp quy mô công nghệ đầu tiên ở Việt Nam. Tuy nhiên, để kết quả nghiên cứu đi vào thực tiễn đạt hiệu quả cao, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách thiết thực giúp các nhà khoa học và doanh nghiệp áp dụng công nghệ sản xuất sắt xốp phi lò cao - một công nghệ sạch, có giá trị kinh tế cao... vào sản xuất và đời sống.
Từ khóa: Công nghiệp, luyện thép, hợp kim, Việt Nam, sắt xốp.

3. Về xu thế phát triển, cơ hội và thách thức đối với lĩnh vực chế biến dầu khí - Góc nhìn từ Việt Nam/ Hồ Sĩ Thoảng, Bỳ Văn Tứ// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 15 .- 8/2013 - Tr. 31 - 36
Bài viết trình bày tóm lược bức tranh tổng thể cũng như xu thế phát triển của ngành công nghiệp chế biến dầu khí trên thế giới, trong khu vực và những thách thức trong việc thu hút đầu tư vào lĩnh vực này ở Việt Nam. Từ kinh nghiệm trong việc thu hút các đối tác nước ngoài cũng như những thách thức của Nhà máy lọc dầu Dung Quất, các tác giả đã rút ra những bài học bổ ích. Để thu hút đầu tư, nguyên tắc quan trọng nhất là Nhà nước và nhà đầu tư cùng có lợi, đồng thời nhà đầu tư được bảo đảm sẽ thu được lợi nhuận tối thiểu thỏa đáng; các chính sách và cam kết đối với dự án phải rõ ràng, minh bạch, ổn định.
Từ khóa: Công nghiệp chế biến dầu khí, Nhà máy lọc dầu Dung Quất.  

4. Một số khái cạnh triết học về bản chất và vai trò của tài sản trí tuệ trong sự phát triển kinh tế/ Nguyễn Hữu Cẩn// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 15 .- 8/2013 - Tr. 37 - 39
Tài sản trí tuệ là một dạng vật chất xã hội mang tính vô hình. Dưới góc độ triết học, tài sản trí tuệ được coi là lực lượng sản xuất trực tiếp, là cơ sở kinh tế quyết định sự vận động và phát triển của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, quyết định hình thái kinh tế - xã hội. Trong thực tế, tài sản trí tuệ được coi là một công cụ hữu hiệu để phát triển nền kinh tế.
Từ khóa: Tài sản trí tuệ, bản chất, vai trò, khía cạnh triết học.

5. Bước đầu nghiên cứu chủng vi sinh vật trong đất cát pha nhiều mùn có khả năng tham gia quá trình phân hủy thuốc trừ sâu cơ phốt pho chứa hoạt chất Diazinon/ Lê Thị Trinh// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 15 .- 8/2013 - Tr. 47 - 50
Bài báo công bố các nghiên cứu ban đầu về ảnh hưởng của vi sinh vật đến khả năng phân hủy thuốc trừ sâu cơ phốt pho trong môi trường đất. Kết quả cho thấy,  một số chủng vi sinh vật trong đất cát pha nhiều mùn đã thúc đẩy nhanh quá trình phân hủy của thuốc trừ sâu cơ phốt pho chứa hoạt chất diazinon.
Từ khóa: Vi sinh vật, đất, diazinon.

6. Nghiên cứu xác định thành phần phân hữu cơ vi sinh cho cao su giai đoạn vườn ươm/ Lê Như Kiểu, Lê Thị Thanh Thủy// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 15 .- 8/2013 - Tr. 51 - 54
Trong những năm gần đây, diện tích trồng cao su ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Ở vùng Tây Bắc, cây cao su được trồng đầu tiên vào năm 2006 tại Sơn La và đã được sự quan tâm, đầu tư rất lớn của Chính phủ. Năm 2008, cây cao su đã nhanh chóng lan sang các tỉnh Điện Biên, Lai Châu và nâng tổng diện tích trồng cao su của vùng Tây Bắc lên 4.640 ha. Song song với việc tăng diện tích thì nhu cầu phân bón cho cây cao su cũng rất quan trọng. Tuy nhiên hiện nay, phân bón cho cây cao su ở Việt Nam có rất ít chủng loại, hầu hết chỉ là phân khoáng hoặc hữu cơ khoáng. Do đó, việc nghiên cứu, xác định các thành phần chính của phân bón hữu cơ vi sinh cho cây cao su nói chung và cây cao su ở giai đoạn vườn ươm nói riêng là rất cần thiết.
Từ khóa: Nông nghiệp, phân hữu cơ vi sinh, cây cao su.

7. Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống/Ngô Văn Mạnh, Lại Văn Hùng, Trần Văn Dũng// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 15 .- 8/2013 - Tr. 55 - 59
Thí nghiệm về ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chim vây vàng giai đoạn giống cho thấy, tốc độ sinh trưởng đặc trưng về khối lượng của cá cao nhất ở mật độ ương 1,5 và 2,0 con/l, thấp nhất ở mật độ ương 4,0 và 4,5 con/l. Hệ số phân đàn của cá chim vây vàng ở mật độ ương 1,0; 1,5 và 2,5 con/l thấp hơn so với mật độ ương 4,0 con/l. Hệ số thức ăn thấp nhất đạt được khi ương cá ở mật độ 2,5 con/l, cao nhất ở các mật độ ương 1,0 và 3,0 con/l. Tỷ lệ sống của cá ương ở mật độ 1,0-3,0 con/l cao hơn so với mật độ 3,0 - 4,5 con/l. Từ nghiên cứu này có thể nhận thấy, mật độ thích hợp cho ương cá chim vây vàng giai đoạn giống là 1,5-2,5 con/l.
Từ khóa: Cá chim vây vàng, cá giống, mật độ, tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống.

8. Một số kết quả bước đầu ứng dụng Polyme thân thiện với môi trường trong canh tác cây cà phê tại Chư Sê - Gia Lai/ Nguyễn Thanh Tùng, Trịnh Đức Công, Nguyễn Văn Khôi...// Tạp chí Khoa học và công nghệ Việt Nam .- Số 15 .- 8/2013 - Tr. 60 - 64
Ảnh hưởng của việc sử dụng polyme siêu hấp thụ nước và polyme chống sói mòn cho cây cà phê vối trồng mới và cây đang trong thời kỳ kinh doanh đã được nghiên cứu tại huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai từ năm 2012. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, AMS-1 và PAM có những ảnh hưởng tích cực đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây cà phê vối. Tỷ lệ đậu quả cao ở thời điểm cuối mùa mưa, từ 43,7 đến 50,2 %, cao hơn so với đối chứng (43,6%). Bài báo trình bày một số kết quả bước đầu ứng dụng Polyme thân thiện với môi trường trong canh tác cây cà phê tại Chư Sê - Gia Lai.
Từ khóa: Cây công nghiệp, cây cà phê, Gia Lai, ứng dụng Polyme.
 
Trung tâm Thông tin - Thư viện