Bài trích Tạp chí Kinh tế và phát triển số 196 năm 2013
18 tháng 11, 2013 bởi
Bài trích Tạp chí Kinh tế và phát triển số 196 năm 2013
Administrator




1. Phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2013: Những vấn đề cơ bản và một số đề xuất/ Phạm Hồng Chương, Bùi Đức Thọ, Nguyễn Đức Thành...// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 196 .- 10/2013 .- Tr. 3 - 13
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 đã trải qua hơn một nửa chặng đường với không ít những thành công và hạn chế trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến động, cơ hội và thuận lợi đan xen với nhiều khó khăn và thách thức. Do vậy, việc phân tích và đánh giá khái quát thực trạng kinh tế Việt Nam gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 có ý nghĩa cấp thiết. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá những nét cơ bản nhất về tình hình phát triển kinh tế của đất nước trong gần 3 năm vừa qua, tập trung vào những nội dung chính sau đây: 1) Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế 2011-2015; 2) Một số chỉ số kinh tế vĩ mô cơ bản và nguồn lực tăng trưởng của giai đoạn 2011 - 2013; 3) Những nguyên nhân cơ bản của các tồn tại hiện nay; 4) Một số đề xuất cho giai đoạn 2014-1015.
Từ khóa: phát triển kinh tế - xã hội; kế hoạch 5 năm.

2. Một số vấn đề về việc thực hiện 3 đột phá chiến lược giai đoạn 2011-2020/ Nguyễn Kế Tuấn// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 196 .- 10/2013 .- Tr. 14 - 21
Trong đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010, Đại hội Đảng lần thứ 11 (2011) đã nêu rõ: "Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển". Từ đó, Đại hội đã xác định 3 đột phá chiến lược giai đoạn 2011-2020 là: "1) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính; 2) Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tâp trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; 3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đường bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn" (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, trang 106). Bài viết trình bày tóm lược một số công việc đã triển khai thực hiện các trọng tâm của 3 đột phá chiến lược trong hai năm rưỡi vừa qua, đưa ra những đánh giá về kết quả, những khó khăn hạn chế và đề xuất giải pháp mang tính điều kiện để thực hiện có kết quả nhiệm vụ mang trọng yếu này.
Từ khóa: thể chế kinh tế thị trường, nguồn nhân lực, hệ thống kết cấu hạ tầng, các trọng tâm của đột phá chiến lược, đổi mới tư duy.

3. Một số vấn đề xã hội nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta: Thực trạng và khuyến nghị/ Mai Ngọc Cường// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 196 .- 10/2013 .- Tr. 22 - 27
Bài viết đề cập đến những bất cập trong lĩnh vực xã hội như thu thập, phân hóa giàu nghèo, an sinh xã hội, việc làm, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản và dịch vụ cá nhân, chính sách đối với người có công đang cản trở chủ trương giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội theo tinh thần văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 11.
Từ khóa: Thu nhập, phân hóa giàu nghèo, an sinh xã hội, việc làm, dịch vụ xã hội cơ bản, dịch vụ cá nhân, chính sách người có công.

4. Nông nghiệp Việt Nam: Những thách thức và một số định hướng phát triển bền vững/ Đỗ Kim Chung, Kim Thị Dung// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 196 .- 10/2013 .- Tr. 28 - 35
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam. Hiện nay, nông nghiệp tạo ra sinh kế cho 68,2% dân số, đóng góp 22% GDP và 23% giá trị xuất khẩu của quốc gia. Tuy nhiên, dân số và lao động tăng nhưng quỹ đất cho nông nghịêp tiếp tục giảm, năng lực cạnh tranh của nhiều nông sản còn thấp, đầu tư cho nông nghiệp thấp, chưa thật sự an ninh về lương thực-thực phẩm, chênh lệch giữa các vùng và các nhóm cư dân ngày một tăng, suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu và kéo theo nước biển dâng đang là những thách thức lớn cho phát triển của nông nghiệp nước ta. Để phát triển nền nông nghiệp bền vững, các biện pháp sau đây cần được thực hiện: Quy hoạch nông nghiệp theo thị trường mở, bảo tồn quỹ đất nông nghiệp hơn là chỉ giữ đất lúa; Tăng năng lực cạnh tranh của nông sản thông qua phát triển công nghiệp chế biến nông sản, đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao và phát triển chuỗi giá trị, xây dựng thương hiệu nông sản; Tăng đầu tư công và thu hút mạnh hơn đầu tư của toàn xã hội vào nông nghiệp và nông thôn; Chú trọng an ninh dinh dưỡng cho toàn xã hội thông qua đẩy mạnh sản xuất lương thực- thực phẩm, tăng cường năng lực của người tiêu dùng tiếp cận được lương thực thực phẩm; Đầu tư trọng điểm ở các vùng khó khăn để giảm dần khoảng cách giữa các vùng và các nhóm cư dân; Gắn phát triển nông nghiệp với bảo vệ môi trường qua tăng cường năng lực dự tính dự báo, hạ tầng và nhân lực để ứng phó kịp thời với biến đổi khí hậu.
Từ khóa: Phát triển nông nghiệp bền vững, Thách thức, Định hướng phát triển

5. Phát triển nông nghiệp bền vững: Lý luận và thực tiễn/ Vũ Trọng Bình// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 196 .- 10/2013 .- Tr. 37 - 45
Phát triển bền vững nông nghiệp đã trở thành vấn đề toàn cầu, không chỉ của Việt Nam. Bài viết này tập trung giới thiệu khái niệm phát triển nông nghiệp bền vững, các tiếp cận chiến lược trong phát triển nông nghiệp bền vững, và trình bày tóm tắt một số chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững của một số quốc gia cũng như thực tiễn phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam. Có nhiều cách tiếp cận cho phát triển bền vững, tuy nhiên tất cả chỉ để làm thế nào cho người sản xuất thay đổi hành vi của họ dựa trên các nguyên tắc sản xuất bền vững. Việt Nam đang rất tích cực phát triển nền nông nghiệp bền vững. Nhiều chính sách đã được ban hành. Tuy nhiên, giữa hiện thực và chính sách còn khoảng cách xa. Chúng ta thiếu các chuỗi giá trị dựa trên quản trị sản xuất bền vững, thiếu cơ chế chính sách để nông dân thực hành bền vững. Khi mà thực hành sản xuất không bền vững vẫn còn có lợi ích lớn hơn, thậm chí lớn hơn nhiều so với thực hành sản xuất bền vững, thì việc phát triển nông nghiệp bền vững vẫn còn khó khăn.
Từ khóa: Nông nghiệp bền vững, phát triển, môi trường, chính sách, biến đổi khí hậu

6. Phát triển nông nghiệp sạch và bền vững trên thế giới và ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp/ Vũ Thị Minh// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 196 .- 10/2013 .- Tr. 46 - 54
Phát triển nông nghiệp theo hướng sạch và bền vững là một trong những mục tiêu phấn đấu của ngành nông nghiệp Việt Nam. Nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp theo tiêu chuẩn GAP là các phương thức phát triển nông nghiệp sạch, đang được khuyến khích trên thế giới nhằm đảm bảo cung cấp nông sản thực phẩm có chất lượng cao, an toàn cho người tiêu dùng và không gây tổn hại đến môi trường. Ở Việt Nam, diện tích sản xuất nông nghiệp sạch theo GAP và nông nghiệp hữu cơ đến nay mới đạt khoảng 10 nghìn ha, chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng diện tích nông nghiệp. Để thúc đẩy sự chuyển đổi sang nền nông nghiệp sạch và bền vững, cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp như hoàn thiện cơ chế chính sách, hoàn thiện các quy định về kỹ thuật, tăng cường theo dõi giám sát thực hiện, tuyên truyền tập huấn chuyển giao kiến thức cho nông dân, xây dựng các mô hình trình diễn về chuỗi cung ứng nông sản an toàn.
Từ khóa: Phát triển bền vững, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, thực hành nông nghiệp tốt, GAP, VietGAP

7. Các chỉ số đánh giá thị trường bất động sản và khả năng áp dụng tại Việt Nam/ Trần Thị Minh Thư, Trần Quốc Khánh// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 196 .- 10/2013 .- Tr. 55 - 59
Thị trường bất động sản của Việt Nam đang trong quá trình phát triển, những người tham gia thị trường cũng như các nhà quản lý rất khó biết thị trường đang trong tình trạng nào để có thể có được các quyết sách đúng trong quản lý cũng như trong quá trình tham gia giao dịch. Mặc dù Bộ Xây dựng đã đề xuất thử nghiệm xây dựng một số chỉ số đánh giá thị trường bất động sản (BĐS) và yêu cầu 4 đô thị lớn là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ phải công bố chỉ số giá BĐS từ quý 3/2011, nhưng đến nay mới chỉ có Hà Nội công bố được chỉ số giá chung cư, còn nhiều loại BĐS khác vẫn chưa làm được. Một trong những nguyên nhân chính là có nhiều phương pháp xác định chỉ số đánh giá thị trường và chưa có sự thống nhất, việc tính toán đòi hỏi phải có hệ thống số liệu thống kê đầy đủ, trong khi việc thu thập thông tin về các giao dịch bất động sản trên thị trường rất khó khăn, nguồn thông tin thì rất đa dạng, nhưng lại thiếu minh bạch. Bài viết này tập trung thảo luận các loại chỉ số đánh giá thị trường bất động sản và khả năng áp dụng chúng trong điều kiện của Việt Nam.
Từ khóa: Chỉ số giá bất động sản, chỉ số lượng giao dịch bất động sản và chỉ số thị trường bất động sản

8. Chất lượng dịch vụ công trong cấp phép nhập khẩu nông sản ảnh hưởng tới sự hài lòng của doanh nghiệp/ Nguyễn Thắng, Nguyễn Trung Đông, Nguyễn Thị Thanh Huyền// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 196 .- 10/2013 .- Tr. 61 - 71
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu xác định các yếu tố chất lượng dịch vụ công trong lĩnh vực cấp phép nhập khẩu nông sản và đề xuất giải pháp thích hợp để nâng cao chất lượng dịch vụ công trong lĩnh vực cấp phép nhập khẩu nông sản tại Việt Nam. Trong nghiên cứu này, mô hình SERVQUAL (được chỉnh sửa cho phù hợp với những đặc thù riêng của chất lượng dịch vụ hành chính công tại Việt Nam) được sử dụng. Mô hình nghiên cứu chính thức gồm sáu nhân tố thành phần đo lường chất lượng dịch vụ là sự tin cậy, sự đảm bảo, sự đồng cảm, sự đáp ứng, cơ sở vật chất, quy trình thủ tục hành chính và một nhân tố đo sự hài lòng của doanh nghiệp. Dựa vào mô hình này có sáu giả thuyết được đặt ra. Sau khi phân tích số liệu thu thập bằng các phân tích nhân tố, hồi quy, có bốn giả thuyết được chấp nhận là: (1) Thông tin về thủ tục có tác động dương đến sự hài lòng của doanh nghiệp; (2) Sự đảm bảo có tác động dương đến sự hài lòng của doanh nghiệp; (3) Sự đáp ứng có tác động dương đến sự hài lòng của doanh nghiệp; (4) Quy trình thủ tục hành chính phù hợp có tác động dương đến sự hài lòng của doanh nghiệp. 
Từ khóa: Chất lượng dịch vụ công, cấp phép, nông sản, sự hài lòng

9. Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân - Thực trạng và giải pháp/ Hồ Quế Hậu// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 196 .- 10/2013 .- Tr. 72 - 79
Trong những năm gần đây nông sản Việt Nam đối diện với những thách thức mới về thị trường tiêu thụ nhất là trong lĩnh vực xuất khẩu với chất lượng thấp, không đồng đều, an toàn vệ sinh thực phẩm không bảo đảm, nguồn gốc xuất xứ không rõ ràng mà một trong những nguyên nhân quan trọng là do sản xuất nông nghiệp thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân. Để tham gia giải quyết vấn đề đó, bài viết phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân. 
Từ khóa: Doanh nghiệp, chế biến nông sản, liên kết kinh tế, nông dân, nông sản, nông nghiệp hợp đồng

10. Triển khai trả lương theo vị trí làm việc đối với công chức - viên chức: Từ lý thuyết đến thực tiễn/ Trần Xuân Cầu// Tạp chí Kinh tế và phát triển .- Số 196 .- 10/2013 .- Tr. 80 - 84
Bài báo này làm rõ và phân biệt về mặt lý luận các thuật ngữ cần thiết liên quan đến vị trí việc làm, xác định các yếu tố cấu thành vị trí việc làm và nội hàm của vị trí việc làm cũng như của từng yếu tố vị trí việc làm; xác định giá trị của vị trí việc làm, mối tương quan giữa vị trí việc làm và con người trong đó, giữa giá trị của vị trí việc làm với mức lương và trả lương. Bài báo chỉ rõ những bước đi cụ thể cần thiết cũng như những khó khăn, phức tạp trong quá trình triển khai trả lương theo vị trí việc làm tại các cơ quan, tổ chức nhà nước.
Từ khóa: Vị trí việc làm, trả lương theo vị trí việc làm, chức trách, chức danh, công chức

Trung tâm Thông tin - Thư viện